Avikalpapraveśadhāraṇī
Dhāraṇī Nhập Vào Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai
TS. Trần Quang Đăng dịch từ Sanskrit sang Việt Văn
1. Như vậy tôi nghe:
Một thời, đức Thế Tôn trú tại Rājagṛha - Vương Xá, trong một cung điện tên là Tạng Pháp Giới Hoàn Toàn Không Phân Tách Tâm Làm Hai Ưu Việt Hơn Tất Cả Ba Cõi, cùng với đại chúng Tỳ Kheo Tăng đông đảo và đại chúng Bồ Tát Tăng đông đảo.
Trong đó có Bồ Tát, Đại Bồ Tát Avikalpa - Không Phân Tách Tâm Làm Hai
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Avikalpaprabhāsa - Không Phân Tách Tâm Làm Hai Chiếu Sáng
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Avikalpacandra - Mặt Trăng Không Phân Tách Tâm Làm Hai
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Nirvikalpavīra - Anh Hùng Hoàn Toàn Không Phân Tách Tâm Làm Hai
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Nirvikalpadharmanirdeśakuśala - Bậc Khéo Chỉ Bày Giáo Pháp Không Phân Tách Tâm Làm Hai
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Nirvikalpasvabhāva - trạng thái riêng Của Không Phân Tách Tâm Làm Hai
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Nirvikalpamati - Tuệ Tỉnh Thức Mati Không Phân Tách Tâm Làm Hai
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Nirvikalpanāda - Âm Thanh Không Phân Tách Tâm Làm Hai
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Nirvikalpaspharaṇa - Sự Lan Tỏa Không Phân Tách Tâm Làm Hai
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Nirvikalpasvara - Âm Giọng Không Phân Tách Tâm Làm Hai
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Maheśvara - Đại Thiên Chúa
Bồ Tát, Đại Bồ Tát Nirvikalpamahāmaitrīsvara - Âm Thanh Đại Từ Không Phân Tách Tâm Làm Hai
Bồ Tát Avalokiteśvara - Quán Thế Âm
Bấy giờ, đức Thế Tôn được nhiều trăm ngàn hội chúng vây quanh và đi trước, đang thuyết Pháp, tức là khởi từ Trạng thái Hoàn toàn Không Phân Tách Tâm Làm Hai của các Pháp.
2. Bấy giờ, đức Thế Tôn nhìn khắp toàn thể hội chúng Bồ Tát chung quanh, rồi bảo các Bồ Tát:
Các thiện nam tử, các ông hãy thọ trì dhāraṇī tên là Nhập Vào Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai. Khi Bồ Tát, Đại Bồ Tát thọ trì dhāraṇī Nhập Vào Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai này, vị ấy mau chóng thành tựu các Pháp Toàn Giác, và đúng thời tiến đến sự đặc thắng.
3. Bấy giờ, ngay trong hội chúng ấy, có Bồ Tát, Đại Bồ Tát tên là Không Phân Tách Tâm Làm Hai Chiếu Sáng. Vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt thượng y qua một bên vai, đặt đầu gối phải xuống đất, hướng về đức Thế Tôn, chắp tay đảnh lễ rồi bạch đức Thế Tôn:
Thưa đức Thế Tôn, xin Ngài thuyết giảng dhāraṇī Nirvikalpapraveśā - Nhập Vào Sự Hoàn Toàn Không Phân Tách Tâm Làm Hai. Sau khi nghe dhāraṇī ấy, các Bồ Tát, Đại Bồ Tát sẽ thọ trì, đọc tụng, tác ý đúng lý, và giảng rộng cho người khác.
Khi lời ấy được thưa xong, đức Thế Tôn nói rằng:
Vậy, này các thiện nam tử, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý. Ta sẽ thuyết giảng dhāraṇī Nhập Vào Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai.
Các Bồ Tát ấy thưa rằng:
“Lành thay, thưa đức Thế Tôn.” Rồi họ lắng nghe đức Thế Tôn.
4. Đức Thế Tôn nói như sau:
“Này các thiện nam tử, ở đây, Bồ Tát, Đại Bồ Tát, sau khi nghe Pháp lấy Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai làm chủ đạo, an lập ý hướng nơi Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai, thì lìa bỏ mọi tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai. Trước hết, vị ấy lìa bỏ tất cả các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai do tương tác qua lại với nhau, tức là Đối Tượng Nắm Bắt hoặc Người Nắm Bắt.
Ở đây, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai là các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh đối với sự vật có lậu hoặc ô nhiễm tâm. Sự vật có lậu hoặc ô nhiễm tâm ấy chính là năm uẩn bám chặt, tức là uẩn bám chặt vào sắc, uẩn bám chặt vào thọ, uẩn bám chặt vào tưởng, uẩn bám chặt vào hành và uẩn bám chặt vào thức.
Vậy vị ấy lìa bỏ các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai ấy như thế nào? Bằng cách không tác ý hướng tâm có chủ đích đến chúng, dù chúng hiện tiền tồn tại hiện hữu theo cách xuất hiện như sự hiện khởi của hình tướng nơi tâm.
5. Khi vị ấy tuần tự lìa bỏ các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai ấy, thì những tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát phương pháp đối trị qua lại lẫn nhau khác lại sinh khởi, hiện tiền có mặt hiện hữu theo cách tạo ra sự hiện khởi của hình tướng nơi tâm. Đó là tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát bố thí, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát giữ giới, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát nhẫn nhục chịu đựng, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát siêng năng tinh tấn, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát thiền định tập trung tâm ý, và tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát Tuệ Giác; hoặc do xác lập theo trạng thái riêng, hoặc do xác lập theo phẩn chất công đức, hoặc do xác lập theo cốt lõi tinh tuý. Vị ấy cũng lìa bỏ các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát phương pháp đối trị qua lại lẫn nhau ấy bằng cách không tác ý hướng tâm có chủ đích đến chúng.
6. Khi vị ấy lìa bỏ những điều ấy, thì những tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi xác lập thực tại chân thật khác lại sinh khởi, hiện tiền có mặt hiện hữu theo cách xuất hiện như sự hiện khởi của hình tướng nơi tâm. Đó là tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi xác lập Trạng Thái Rỗng Không, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi xác lập Trạng Thái Chân Thật Như Vậy, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi xác lập Thực Tế, và tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi xác lập Pháp Giới của ý nghĩa tối thượng của sự không tướng trạng hình ảnh ảo ảnh; hoặc do xác lập theo tướng đặc trưng riêng, hoặc do xác lập theo phẩm chất công đức, hoặc do xác lập theo tinh tuý cốt lõi. Vị ấy cũng lìa bỏ các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi xác lập thực tại chân thật ấy bằng cách không tác ý hướng tâm có chủ đích đến chúng.
7. Khi vị ấy cũng lìa bỏ những điều ấy, thì những tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc khác lại sinh khởi, hiện tiền có mặt hiện hữu theo cách xuất hiện như sự hiện khởi của hình tướng nơi tâm. Đó là tướng tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc Địa thứ nhất, cho đến tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc Địa thứ mười, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc Nhẫn Pháp Không Sinh, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc Thọ ký, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc hoàn toàn thanh tịnh cõi Phật, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc hoàn toàn thành tựu chúng sinh, tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc Quán Đảnh, cho đến tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả; hoặc do xác lập theo tướng đặc trưng riêng, hoặc do xác lập theo phẩm chất công đức, hoặc do xác lập theo tinh tuý cốt lõi. Vị ấy cũng lìa bỏ các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc ấy bằng cách không tác ý hướng tâm có chủ đích đến chúng.
8. Như vậy, Bồ Tát, Đại Bồ Tát, khi bằng cách không tác ý hướng tâm có chủ đích mà lìa bỏ các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của tất cả các hình thái của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai ấy, thì khéo được đặt vào Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai. Tuy nhiên, vị ấy chưa chạm đến Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai. Nhưng đây chính là chánh định samādhi Đúng Như Thật để chạm đến Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai. Nhờ tu tập theo sự thực hành đúng đắn ấy, nhờ thường xuyên làm cho nhuần nhuyễn thuần thục, nhờ tác ý đúng đắn, hoặc không do sự tạo tác mạnh mẽ có chủ ý, không do dụng công, vị ấy chạm đến Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai và tuần tự thanh tịnh hóa nó.
9. Vì lý do gì, này các thiện nam tử, Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai được gọi là Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai?
Vì vượt qua mọi sự xác lập của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai; vì vượt qua Sự Phân Tách Tâm Làm Hai về thuyết giảng và thấy biết; vì vượt qua mọi tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai; vì vượt qua mọi Sự Phân Tách Tâm Làm Hai của các căn giác quan; vì vượt qua mọi Sự Phân Tách Tâm Làm Hai của cảnh giới đối tượng; vì vượt qua mọi Sự Phân Tách Tâm Làm Hai của các biểu hiện giả lập; và vì không còn chỗ nương cho tất cả các chướng ngại phiền não, các tuỳ phiền não và chướng ngại của đối tượng nhận biết. Do đó, Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai của Cảnh Giới được gọi là Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai.
10. Cái gì là Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai ấy?
Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai là không có hình sắc, không thể chỉ bày, không an trụ, không hiện tướng, không biểu hiện giả lập, không nơi cư trú.
Quả thật, Bồ Tát, Đại Bồ Tát an lập trong Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai thấy tất cả Pháp bình đẳng như không gian hư không bằng Trí Biết Sự Hoàn Toàn Không Phân Tách Tâm Làm Hai, là trí biết không phân biệt và không còn sai biệt về đối tượng nhận biết. Bằng trí biết đạt được, sau đó, vị ấy thấy tất cả các Pháp như ảo ảnh huyễn hoá, nắng dợn, giấc mộng, sự hiện khởi qua lại của hình tướng nơi tâm, tiếng vang, ảnh phản chiếu, mặt trăng trong nước và hóa hiện.
Từ đó, vị ấy đạt được sự rộng lớn của Trạng Thái Tự Chủ An Trú Trong An Lạc Lớn; đạt được sự rộng lớn của Viên Mãn Tâm Lớn; đạt được sự rộng lớn của Trí Biết và Tuệ Giác Lớn; đạt được sự rộng lớn của Trạng Thái Tự Chủ An Trú Trong Sự Chỉ Dạy Lớn; và có khả năng làm lợi ích cho tất cả chúng sinh trong mọi thời, bằng mọi phương diện, nhờ không ngừng làm các Phật sự mà không dụng công.
11. Này các thiện nam tử, ví như dưới một ngọn núi đá nguyên khối, rắn chắc, có một kho báu lớn chứa đầy nhiều loại châu báu lớn: các ngọc quý như ý lớn cintāmaṇi sáng rực, nhiều màu sắc, như ngọc quý rūpya, ngọc quý vàng ròng suvarṇa, hoặc các loại báu khác sinh trong đá.
Bấy giờ có một người đến, mong cầu kho báu lớn ấy. Một người biết rõ kho báu lớn ấy nói với người kia rằng:
“Này người kia, dưới ngọn núi đá nguyên khối rắn chắc này có kho châu báu lớn, đầy những châu báu sáng rực. Bên dưới nó có kho ngọc quý như ý lớn cintāmaṇi. Ông hãy đào lớp đá tự nhiên ấy. Khi ông đào, một lớp đá có ánh bạc sẽ hiện ra. Nhưng ngay ở đó, ông không nên tưởng đó là kho báu lớn. Hãy biết rõ nó rồi tiếp tục đào. Khi ông đào tiếp, một lớp đá có ánh vàng sẽ hiện ra. Ở đó cũng không nên tưởng đó là kho báu lớn. Hãy biết rõ nó rồi tiếp tục đào. Khi ông đào tiếp, một lớp đá hiện ánh đủ loại châu báu sẽ hiện ra. Ở đó cũng không nên tưởng đó là kho báu lớn. Hãy biết rõ nó rồi tiếp tục đào. Như vậy, này người kia, nếu ông khéo nỗ lực đào, thì không cần thêm tạo tác, không cần cố sức, ông sẽ thấy kho ngọc quý như ý lớn cintāmaṇi. Khi đạt được kho ngọc quý lớn ấy, ông sẽ trở nên giàu có, nhiều của cải, nhiều thọ dụng, có khả năng làm lợi ích cho mình và cho người.”
12. Cũng vậy, này các thiện nam tử, ví dụ này được đưa ra chỉ để làm rõ ý nghĩa ấy. “Ngọn núi đá nguyên khối rắn chắc” là tên gọi cho các loại tập hành hiện diện cùng hai loại ô nhiễm.
“Kho ngọc quý như ý lớn cintāmaṇi bên dưới” là tên gọi cho Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai.
“Người mong cầu kho ngọc quý như ý lớn cintāmaṇi” là tên gọi cho Bồ Tát, Đại Bồ Tát.
“Người biết rõ kho châu báu lớn” là tên gọi cho đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.
“Đá tự nhiên” là tên gọi cho các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai có bản tính tự nhiên.
“Đào bới” là tên gọi cho Không Tác Ý Hướng Tâm Có Chủ Đích.
“Đá hiện ánh bạc” là tên gọi cho các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát phương pháp đối trị qua lại lẫn nhau.
“Đá hiện ánh vàng” là tên gọi cho các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi xác lập Trạng Thái Rỗng Không, khi xác lập Trạng Thái Chân Thật Như Vậy, khi xác lập Thực Tế, và khi xác lập Pháp Giới của ý nghĩa tối thượng của sự không tướng trạng hình ảnh ảo ảnh.
“Đá hiện ánh đủ loại châu báu” là tên gọi cho các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát sự chứng đắc.
“Đạt được kho ngọc quý như ý lớn cintāmaṇi” là tên gọi cho việc chạm đến Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai.
Như vậy, này các thiện nam tử, nhờ sự trình bày ví dụ này, phải đi theo sự thể nhập vào Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai.
13. Lại nữa, này các thiện nam tử, Bồ Tát, Đại Bồ Tát quán xét kỹ các tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai đã được chỉ dạy như thế nào để đi vào Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai?
Ở đây, này các thiện nam tử, Bồ Tát, Đại Bồ Tát an lập trong Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai, khi tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai có bản tính tự nhiên của sắc hiện tiền đang có mặt, nên quán xét kỹ như vầy:
“Ai vận hành với ý niệm ‘sắc của ta’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘sắc của người khác’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘đây là sắc’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘sắc sinh khởi, đoạn diệt, nhiễm ô, thanh tịnh’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai. Ai vận hành với ý niệm ‘không có sắc’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘sắc không có từ trạng thái riêng, không có từ nhân, không có từ quả, không có từ nghiệp, không có từ tương ưng, không có từ vận hành’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘sắc chỉ là Trạng thái thuần tuý của biểu hiện giả lập’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘như sắc không có, sự biểu hiện giả lập hiện bóng như sắc cũng không có’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.”
14. Khi ấy, này các thiện nam tử, Bồ Tát, Đại Bồ Tát không nắm bắt “sắc” là một thực thể được gọi là sắc; cũng không nắm bắt biểu hiện giả lập hiện bóng như sắc.
Vị ấy cũng hoàn toàn không phá hủy tất cả toàn bộ biểu hiện giả lập; cũng không quán thấy ngoài biểu hiện giả lập có một trạng thái phi vật chất nào khác; cũng không quán thấy ngoài biểu hiện giả lập có cái phi vật chất nào của biểu hiện giả lập.
Đối với cái phi vật chất của biểu hiện giả lập hiện bóng như sắc ấy, vị ấy không quán thấy nó là một với biểu hiện giả lập ấy; cũng không quán thấy nó là khác với biểu hiện giả lập ấy.
Vị ấy cũng không quán thấy cái phi vật chất của biểu hiện giả lập như là một cái vật chất; cũng không quán thấy nó như là cái phi vật chất.
Này các thiện nam tử, bằng tất cả các phương diện ấy, đối với mọi Sự Phân Tách Tâm Làm Hai, vị nào không phân tách tâm làm hai, và cũng không quán thấy rằng “đây là Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai”, thì đây là phương thức thể nhập Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai.
Như vậy, Bồ Tát, Đại Bồ Tát an lập trong Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai.
15. Cũng như vậy đối với thọ, tưởng, hành, thức; cũng như vậy đối với Trạng thái Bờ Bên Kia của Bố Thí, Trạng thái Bờ Bên Kia của Giữ Giới, Trạng thái Bờ Bên Kia của Nhẫn Nhục Chịu Đựng, Trạng thái Bờ Bên Kia của Siêng Năng Tinh Tấn, Trạng thái Bờ Bên Kia của Thiền Định Tập Trung Tâm Ý, Trạng thái Bờ Bên Kia của Tuệ Giác; cũng như vậy đối với Trạng Thái Rỗng Không, Trạng Thái Chân Thật Như Vậy, Thực Tế, Pháp Giới của ý nghĩa tối thượng của sự không tướng trạng hình ảnh ảo ảnh, v.v., cho đến Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả, đều nên áp dụng như thế.
Ở đây, này các thiện nam tử, Bồ Tát, Đại Bồ Tát, khi tướng trạng hình ảnh ảo ảnh của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai khi khảo sát Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả hiện tiền, quán xét kỹ như vầy:
“Ai vận hành với ý niệm ‘Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả của ta’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả của người khác’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘đây là Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả đạt được’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả là để đoạn trừ tất cả chướng ngại phiền não và chướng ngại đối tượng nhận biết’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘không có gì khác ngoài Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả làm cho ba cõi thanh tịnh’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả sinh khởi, đoạn diệt, nhiễm ô, thanh tịnh’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘không có Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả không có từ trạng thái riêng, không có từ nhân, không có từ quả, không có từ nghiệp, không có từ tương ưng, không có từ vận hành’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả chỉ là trạng thái thuần tuý chỉ là biểu hiện giả lập’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.
Ai vận hành với ý niệm ‘như Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả không có, biểu hiện giả lập hiện bóng như Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả cũng không có’ thì vận hành trong Sự Phân Tách Tâm Làm Hai.”
16. Khi ấy, Bồ Tát, Đại Bồ Tát, cũng không nắm bắt Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả, thì cũng không nắm bắt ngay cả biểu hiện giả lập hiện bóng của Trạng thái Trí Tuệ Biết Tất Cả.
Vị ấy cũng hoàn toàn không hủy diệt tất cả toàn bộ biểu hiện giả lập ấy; cũng không nắm bắt ngoài biểu hiện ấy có một pháp nào khác.
Đối với biểu hiện giả lập ấy, vị ấy cũng không quán thấy nó theo phương diện cái phi vật chất; cũng không quán thấy ngoài biểu hiện giả lập có một cái phi vật chất.
Đối với cái phi vật chất của biểu hiện giả lập ấy, vị ấy không quán thấy nó đồng nhất với chính biểu hiện giả lập; cũng không quán thấy nó tách biệt khỏi biểu hiện giả lập.
Vị ấy cũng không quán thấy cái phi vật chất của biểu hiện giả lập ấy như là một cái vật chất; cũng không quán thấy nó như là một cái phi vật chất.
Này các thiện nam tử, bằng tất cả mọi phương diện ấy, đối với mọi Sự Phân Tách Tâm Làm Hai, vị nào không phân tách tâm làm hai, và cũng không quán thấy rằng: "Đây là Pháp Giới Của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai", thì đó chính là phương thức thể nhập vào Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai.
Như vậy, này các thiện nam tử, Bồ Tát, Đại Bồ Tát an trụ trong Cảnh Giới của Sự Không Phân Tách Tâm Làm Hai.
Này các thiện nam tử, công đức do thọ trì, chép viết và đọc tụng bài Pháp này còn nhiều hơn công đức xả bỏ thân mạng nhiều như cát sông Hằng; còn nhiều hơn công đức bố thí châu báu đầy khắp các thế giới nhiều như cát sông Hằng; còn nhiều hơn khối công đức tạo lập hình tượng Như Lai đầy khắp các thế giới nhiều như cát sông Hằng.
Bấy giờ, đức Thế Tôn nói các bài kệ này:
avikalpāsayo bhūtvā saddharme 'smin jinātmajaḥ |
vikalpadurgaṃ vyatītya kramān niṣkalpam āpnute || 1 ||
praśāntam acalaṃ śreṣṭhaṃ vaśavartisamāsamaṃ |
avikalpasukhaṃ tasmād bodhisattvo 'dhigacchati || 2 ||
1. Người con của đức Phật Chiến Thắng,
Sau khi thành người ý khuynh hướng,
Không Có Phân Tách Tâm Làm Hai,
Ngay đúng ở trong Chánh pháp này,
Tuần tự vượt qua thành hiểm trở,
Của Sự Phân Tách Tâm Làm Hai,
Và dần dần đạt đến trạng thái,
Không Còn Sự Kiến Lập Khái Niệm.
2. Do đó, Bồ Tát chứng đạt được,
Niềm an lạc trạng thái dễ chịu,
Không Còn Phân Tách Tâm Làm Hai,
Đã hoàn toàn lắng dịu, tịch tĩnh,
An tĩnh, vắng lặng và bất động,
Cao quý, tối thắng, ưu việt nhất,
Có quyền năng tự chủ kiểm soát,
Đều bình đẳng không gì sánh bằng.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Bồ Tát, Đại Bồ Tát Không Phân Tách Tâm Làm Hai Chiếu Sáng, toàn thể hội chúng ấy, cùng thế gian có chư thiên, loài người, Asura và Gandharva, đều hoan hỷ tín thọ lời đức Thế Tôn dạy.