Bỏ qua để đến Nội dung

Kinh thứ 300. Trạng Thái Bờ Bên Kia Của Tuệ Giác Tên Là Kim Cương Năng Đoạn

21 tháng 6, 2026 bởi
QUANG DANG TRAN

vajracchedikā nāma triśatikā prajñāpāramitā|

Kinh thứ 300. Trạng Thái Bờ Bên Kia Của Tuệ Giác Tên Là Kim Cương Năng Đoạn


Trần Quang Đăng dịch từ Sanskrit sang Việt Văn

Dịch xong ngày 21/06/2026 tại Saigon, Việt Nam

Tải Kinh tại đây

Con hoàn toàn quy mạng Trạng thái Bờ Bên Kia của Thánh Tuệ Giác của đức Thế Tôn

Namah Bhagavatī Āryaprajñāpāramitā.


1. Như vậy tôi nghe:


Một thời, đức Thế Tôn trú tại Śrāvastī, trong Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍada, cùng với đại chúng Tỳ Kheo Tăng gồm 1250 vị Tỳ Kheo, và cùng với rất nhiều Bồ Tát, Đại Bồ Tát.


Bấy giờ, vào buổi sáng sớm, đức Thế Tôn đắp y, cầm bát và y, đi vào đại thành Śrāvastī để khất thực. Khi đã đi khất thực trong đại thành Śrāvastī, sau khi dùng bữa và hoàn tất việc thọ thực, từ nơi khất thực trở về, đức Thế Tôn cất bát và y, rửa hai chân, rồi ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được trải sẵn; Ngài kết thế kiết già paryaṅka, giữ thân ngay thẳng, an lập niệm trước mặt.


Bấy giờ, nhiều vị Tỳ Kheo đi đến nơi đức Thế Tôn. Sau khi đến, các vị cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài ba vòng theo chiều bên phải, rồi ngồi sang một bên.


2. Lúc bấy giờ, Trưởng lão Subhūti cũng có mặt và đang ngồi trong hội chúng ấy.


Bấy giờ, Trưởng lão Subhūti từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y lên một bên vai, đặt đầu gối phải xuống đất, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, rồi thưa với đức Thế Tôn rằng:


Hy hữu thay, thưa đức Thế Tôn! Vô cùng hy hữu thay, thưa đức Thiện Thệ! Các Bồ Tát, Đại Bồ Tát đã được đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác hộ niệm bằng sự hộ niệm tối thượng. Hy hữu thay, thưa đức Thế Tôn! Các Bồ Tát, Đại Bồ Tát đã được đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác phó chúc bằng sự phó chúc tối thượng.


Thưa đức Thế Tôn, vậy thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử đã phát tâm hướng đến Bồ Tát Thừa nên an trụ như thế nào, nên thực hành như thế nào, nên nhiếp phục tâm như thế nào?


Khi lời ấy được thưa như vậy, đức Thế Tôn bảo Trưởng lão Subhūti rằng:


Lành thay, lành thay, này Subhūti! Đúng như vậy, này Subhūti; đúng như lời ông nói. Các Bồ Tát, Đại Bồ Tát đã được Như Lai hộ niệm bằng sự hộ niệm tối thượng; các Bồ Tát, Đại Bồ Tát đã được Như Lai phó chúc bằng sự phó chúc tối thượng.


Vì vậy, này Subhūti, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý thật kỹ. Ta sẽ vì ông mà nói: người đã phát tâm hướng đến Bồ Tát Thừa nên an trụ như thế nào, nên thực hành như thế nào, nên nhiếp phục tâm như thế nào.


Trưởng lão Subhūti thưa với đức Thế Tôn rằng:


Vâng, thưa đức Thế Tôn. Và Trưởng lão Subhūti lắng nghe đức Thế Tôn.


3. Đức Thế Tôn nói như sau:


Này Subhūti, ở đây, người đã phát tâm hướng đến Bồ Tát Thừa nên phát khởi tâm như vầy:


Bao nhiêu chúng sinh, này Subhūti, trong chúng sinh giới, được bao hàm trong phạm vi của chúng sinh: hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ thai, hoặc sinh từ ẩm thấp, hoặc hóa sinh; hoặc có sắc, hoặc không có sắc; hoặc có tưởng, hoặc không có tưởng, hoặc chẳng phải có tưởng cũng chẳng phải không có tưởng; phàm bất cứ chúng sinh giới nào được thiết lập bằng khái niệm là chúng sinh giới, tất cả những chúng sinh ấy đều phải được ta làm cho nhập sự tịch diệt hoàn toàn trong cảnh giới Niết Bàn tịch diệt không còn dư y.


Dù đã làm cho vô lượng chúng sinh như vậy nhập sự tịch diệt hoàn toàn, nhưng thật không có một chúng sinh nào được làm cho nhập sự tịch diệt hoàn toàn.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, nếu nơi một Bồ Tát còn khởi lên và vận hành tưởng về chúng sinh, thì vị ấy không nên được gọi là Bồ Tát.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, không nên gọi là Bồ Tát đối với người mà nơi đó còn khởi lên và vận hành tưởng về chúng sinh, hoặc còn khởi lên và vận hành tưởng về sinh mạng, hoặc còn khởi lên và vận hành tưởng về bản thân cá nhân.


4. Lại nữa, này Subhūti, Bồ Tát không nên an trụ nơi sự vật mà bố thí; không nên an trụ vào bất cứ nơi nào mà bố thí. Không nên an trụ nơi sắc mà bố thí; không nên an trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí.


Này Subhūti, Bồ Tát, Đại Bồ Tát nên bố thí như vậy: cho đến đối với tưởng về tướng trạng hình ảnh ảo ảnh cũng không an trụ.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, nếu Bồ Tát không an trụ mà bố thí, thì khối phước của vị ấy không dễ gì nắm bắt được hạn lượng.


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có dễ nắm bắt được hạn lượng của không gian hư không ở phương Đông chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn.


Đức Thế Tôn nói:

Cũng vậy, nơi phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương dưới, phương trên, các phương chính và phương phụ, khắp cả mười phương, có dễ nắm bắt được hạn lượng của không gian hư không chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn.


Đức Thế Tôn nói:


Cũng như vậy, này Subhūti, nếu Bồ Tát không an trụ mà bố thí, thì khối phước của vị ấy không dễ gì nắm bắt được hạn lượng.


Này Subhūti, người đã phát tâm hướng đến Bồ Tát Thừa nên bố thí như vậy: cho đến đối với tưởng về tướng trạng hình ảnh ảo ảnh cũng không an trụ.


5. Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có nên do sự đầy đủ các tướng đặc trưng mà thấy Như Lai chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Không nên do sự đầy đủ các tướng đặc trưng mà thấy Như Lai.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, sự đầy đủ các tướng đặc trưng mà Như Lai đã nói, chính là sự không đầy đủ các tướng đặc trưng.


Khi lời ấy được nói như vậy, đức Thế Tôn bảo Trưởng lão Subhūti rằng:


Này Subhūti, chừng nào còn là sự đầy đủ các tướng đặc trưng, chừng ấy là hư vọng; chừng nào là sự không đầy đủ các tướng đặc trưng, chừng ấy không phải hư vọng. Vì vậy, nên do tướng đặc trưng và không có tướng đặc trưng mà thấy Như Lai.


6. Khi lời ấy được nói như vậy, Trưởng lão Subhūti thưa với đức Thế Tôn rằng:


Thưa đức Thế Tôn, trong đời vị lai, vào thời kỳ cuối, vào thời gian cuối, trong năm trăm năm cuối, khi Chánh Pháp bị suy hoại, liệu có những chúng sinh nào, khi các câu kinh như thế này được tuyên thuyết, sẽ sinh khởi tưởng là chân thật chăng?


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, trong đời vị lai, vào thời kỳ cuối, vào thời gian cuối, trong năm trăm năm cuối, khi Chánh Pháp bị suy hoại, sẽ có những Bồ Tát, Đại Bồ Tát đầy đủ công đức, đầy đủ giới hạnh, đầy đủ trí tuệ; khi các câu kinh như thế này được tuyên thuyết, họ sẽ sinh khởi tưởng là chân thật.


Này Subhūti, những Bồ Tát, Đại Bồ Tát ấy không phải chỉ từng phụng sự một vị Phật Toàn Giác, không phải chỉ trồng căn lành nơi một vị Phật Toàn Giác. Lại nữa, này Subhūti, những Bồ Tát, Đại Bồ Tát ấy sẽ là những vị đã từng phụng sự nhiều trăm ngàn vị Phật Toàn Giác, đã từng trồng căn lành nơi nhiều trăm ngàn vị Phật Toàn Giác. Khi các câu kinh như thế này được tuyên thuyết, họ sẽ đạt được dù chỉ một niệm tín tâm thanh tịnh.


Này Subhūti, những vị ấy đã được Như Lai biết bằng Trí Biết Toàn Giác của Phật; này Subhūti, những vị ấy đã được Như Lai thấy bằng Con Mắt Toàn Giác của Phật; này Subhūti, những vị ấy đã được Như Lai giác tri.


Này Subhūti, tất cả những vị ấy sẽ sinh khởi và tiếp nhận khối phước vô lượng, vô số.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, vì nơi các Bồ Tát, Đại Bồ Tát ấy không khởi lên và vận hành tưởng về cái gọi là "mình", không khởi lên và vận hành tưởng về chúng sinh, không khởi lên và vận hành tưởng về sinh mạng, không khởi lên và vận hành tưởng về bản thân cá nhân.


Lại nữa, này Subhūti, nơi các Bồ Tát, Đại Bồ Tát ấy cũng không khởi lên và vận hành tưởng về pháp; cũng không khởi lên và vận hành tưởng về phi pháp. Này Subhūti, nơi họ cũng không khởi lên và vận hành tưởng, cũng không khởi lên và vận hành phi tưởng.


Tại sao vậy?

Này Subhūti, nếu nơi các Bồ Tát, Đại Bồ Tát ấy khởi lên và vận hành tưởng về pháp, thì chính đó là sự nắm bắt cái gọi là "mình" của họ, là sự nắm bắt chúng sinh, sự nắm bắt sinh mạng, sự nắm bắt bản thân cá nhân. Nếu khởi lên và vận hành tưởng về phi pháp, thì chính đó cũng là sự nắm bắt cái gọi là "mình" của họ, là sự nắm bắt chúng sinh, sự nắm bắt sinh mạng, sự nắm bắt bản thân cá nhân.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, Bồ Tát, Đại Bồ Tát không nên nắm bắt pháp, cũng không nên nắm bắt phi pháp. Vì vậy, Như Lai đã mật ý nói lời này: người hiểu bài pháp ví như chiếc bè thì ngay cả pháp còn phải xả bỏ, huống nữa là phi pháp.


7. Lại nữa, đức Thế Tôn bảo Trưởng lão Subhūti rằng:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có pháp nào được Như Lai chứng ngộ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng? Hay có pháp nào được Như Lai thuyết giảng chăng?


Khi lời ấy được nói như vậy, Trưởng lão Subhūti thưa với đức Thế Tôn rằng:


Thưa đức Thế Tôn, theo như con hiểu ý nghĩa lời dạy của đức Thế Tôn, không có pháp nào được Như Lai chứng ngộ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; cũng không có pháp nào được Như Lai thuyết giảng.


Tại sao vậy?


Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ hoặc đã thuyết giảng ấy là không thể nắm bắt, không thể nói năng diễn đạt. Pháp ấy không phải pháp, cũng không phải phi pháp.


Tại sao vậy?


Vì các Thánh Nhân được hiển phát bởi pháp không do tạo tác mà thành.


8. Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Nếu có thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử đem cả 3.000 đại thiên thế giới này chứa đầy bảy báu, rồi dùng để bố thí lên các đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, thì thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử ấy, do nhân duyên đó, có sinh khởi nhiều khối phước chăng?


Subhūti thưa:


Nhiều, thưa đức Thế Tôn. Rất nhiều, thưa đức Thiện Thệ. Thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử ấy, do nhân duyên đó, sẽ sinh khởi nhiều khối phước.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, khối phước mà Như Lai đã nói, chính là không phải khối được Như Lai nói. Vì vậy Như Lai nói: ‘khối phước, khối phước.’


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, nếu lại có thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử đem cả 3.000 đại thiên thế giới này chứa đầy bảy báu, rồi dùng để bố thí lên các đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác; và nếu có người từ bài pháp này, cho đến chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu, rồi vì người khác mà giảng nói rộng rãi, khai thị rõ ràng, thì chính người sau này, do nhân duyên ấy, sẽ sinh khởi khối phước nhiều hơn, vô lượng, vô số.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, từ đây sinh ra Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của các đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác; từ đây sinh ra các đức Phật Toàn Giác, các bậc Thế Tôn.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, những pháp gọi là pháp Toàn Giác, chính những pháp ấy đã được Như Lai nói là không phải pháp Toàn Giác. Vì vậy gọi là pháp Toàn Giác.


9. Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Một vị srotaāpanna đã nhập vào dòng chảy có nghĩ rằng: ‘Ta đã chứng đắc quả srotaāpatti’ chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Một vị srotaāpanna không nghĩ rằng: ‘Ta đã chứng đắc quả srotaāpatti.’

Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, vị ấy thật không nhập vào một pháp nào; vì vậy gọi là srotaāpanna. Vị ấy không nhập vào sắc, không nhập vào thanh, không nhập vào hương, không nhập vào vị, không nhập vào xúc, không nhập vào pháp; vì vậy gọi là srotaāpanna đã nhập vào dòng chảy.


Thưa đức Thế Tôn, nếu một vị srotaāpanna nghĩ rằng: ‘Ta đã chứng đắc quả srotaāpatti’, thì chính đó là sự nắm bắt cái gọi là "mình" của vị ấy, là sự nắm bắt chúng sinh, sự nắm bắt sinh mạng, sự nắm bắt bản thân cá nhân.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Một vị sakṛdāgāmin còn một lần quay trở lại có nghĩ rằng: ‘Ta đã chứng đắc quả sakṛdāgāmin’ chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Một vị sakṛdāgāmin không nghĩ rằng: ‘Ta đã chứng đắc quả sakṛdāgāmin.’


Tại sao vậy?


Vì không có một pháp nào nhập vào trạng thái sakṛdāgāmitva. Vì vậy gọi là sakṛdāgāmin.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Một vị anāgāmin không còn quay trở lại có nghĩ rằng: ‘Ta đã chứng đắc quả anāgāmin’ chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Một vị anāgāmin không nghĩ rằng: ‘Ta đã chứng đắc quả anāgāmin.’


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, vì không có một pháp nào nhập vào trạng thái anāgāmitva. Vì vậy gọi là anāgāmin.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Một vị arhat có nghĩ rằng: ‘Ta đã chứng đắc trạng thái arhattva’ chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Một vị arhat không nghĩ rằng: ‘Ta đã chứng đắc arhattva.’


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, vì thật không có một pháp nào gọi là arhat. Vì vậy gọi là arhat.


Thưa đức Thế Tôn, nếu một vị arhat nghĩ rằng: ‘Ta đã chứng đắc trạng thái arhattva’, thì chính đó là sự nắm bắt cái gọi là "mình" của vị ấy, là sự nắm bắt chúng sinh, sự nắm bắt sinh mạng, sự nắm bắt bản thân cá nhân.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, con đã được đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác tuyên bố là bậc tối thượng trong những người an trú nơi không tranh araṇāvihāra. Thưa đức Thế Tôn, con là arhat, đã lìa tham. Nhưng thưa đức Thế Tôn, nơi con không khởi niệm rằng: ‘Ta là arhat, đã lìa tham.’


Thưa đức Thế Tôn, nếu nơi con khởi niệm rằng: ‘Ta đã chứng đắc trạng thái arhattva’, thì Như Lai đã không thọ ký cho con rằng: ‘Thiện nam tử Subhūti là bậc tối thượng trong những người an trú nơi không tranh araṇāvihāra.’ Vì Subhūti không an trú nơi bất cứ đâu, nên gọi là người an trú nơi không tranh araṇāvihāra, người an trú nơi araṇāvihāra.


10. Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có pháp nào được Như Lai thọ nhận nơi đức Dīpaṃkara - Nhiên Đăng Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Không có pháp nào được Như Lai thọ nhận nơi đức Nhiên Đăng Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, nếu có Bồ Tát nào nói rằng: ‘Ta sẽ làm thành tựu sự trang nghiêm cõi Phật’, thì người ấy nói không đúng thật.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, ‘sự trang nghiêm cõi Phật, sự trang nghiêm cõi Phật’ ấy, Như Lai nói là không phải sự trang nghiêm. Vì vậy mới gọi là sự trang nghiêm cõi Phật.


Vì thế, này Subhūti, Bồ Tát, Đại Bồ Tát nên phát tâm không an trụ như vậy; nên phát tâm không an trụ vào bất cứ nơi nào. Không nên phát tâm an trụ nơi sắc; không nên phát tâm an trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp.


Này Subhūti, ví như có người thân thể đầy đủ, thân thể to lớn; tự thể của người ấy lớn như Sumeru, vua của các núi. Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Tự thể ấy có lớn chăng?


Subhūti thưa:


Lớn, thưa đức Thế Tôn. Lớn, thưa đức Thiện Thệ. Tự thể ấy rất lớn.


Tại sao vậy?

Thưa đức Thế Tôn, ‘tự thể, tự thể’ ấy, Như Lai nói là không phải thể. Vì vậy mới gọi là tự thể. Thưa đức Thế Tôn, thể ấy không phải là thể, cũng không phải phi thể. Vì vậy gọi là tự thể.


11. Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Nếu có bao nhiêu cát trong sông Hằng lớn, thì lại có bấy nhiêu con sông Hằng. Trong các con sông ấy, số cát có nhiều chăng?


Subhūti thưa:


Thưa đức Thế Tôn, chỉ riêng số những con sông Hằng ấy đã là rất nhiều rồi, huống nữa là số cát trong các con sông Hằng ấy.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, Ta nói cho ông biết, Ta tuyên bày cho ông rõ. Nếu có bao nhiêu cát trong các con sông Hằng ấy, thì có bấy nhiêu thế giới; nếu có người nữ hoặc người nam nào đem các thế giới ấy chứa đầy bảy báu, rồi dùng để bố thí lên các đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, thì này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Người nữ hoặc người nam ấy, do nhân duyên đó, có sinh khởi nhiều khối phước chăng?


Subhūti thưa:


Nhiều, thưa đức Thế Tôn. Rất nhiều, thưa đức Thiện Thệ. Người nữ hoặc người nam ấy, do nhân duyên đó, sẽ sinh khởi khối phước vô lượng, vô số.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, nếu lại có người nữ hoặc người nam đem bấy nhiêu thế giới chứa đầy bảy báu, rồi dùng để bố thí lên các đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác; và nếu có thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử từ bài pháp này, cho đến chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu, rồi vì người khác mà giảng nói, khai thị rõ ràng, thì chính người này, do nhân duyên ấy, sẽ sinh khởi khối phước nhiều hơn, vô lượng, vô số.


12. Lại nữa, này Subhūti, ở bất cứ nơi nào trên mặt đất, nếu từ bài pháp này, cho đến chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu mà được thuyết giảng hoặc khai thị rõ ràng, thì nơi đất ấy sẽ trở thành tháp miếu đối với thế gian gồm chư thiên, loài người và asura. Huống nữa là những ai thọ trì, đọc tụng, học thuộc trọn vẹn bài pháp này, và vì người khác mà khai thị rộng rãi.


Này Subhūti, những người ấy sẽ đầy đủ sự hy hữu tối thượng. Này Subhūti, tại nơi đất ấy, bậc Thầy an trú, hoặc một vị khác đáng ở địa vị bậc thầy trí tuệ cũng an trú.


13. Khi lời ấy được nói như vậy, Trưởng lão Subhūti thưa với đức Thế Tôn rằng:


Thưa đức Thế Tôn, bài pháp này tên là gì, và con nên thọ trì như thế nào?


Khi lời ấy được thưa như vậy, đức Thế Tôn bảo Trưởng lão Subhūti rằng:


Này Subhūti, bài pháp này tên là Prajñāpāramitā - Trạng thái Bờ Bên Kia của Tuệ Giác. Ông nên thọ trì như vậy.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, chính Trạng thái Bờ Bên Kia của Tuệ Giác mà Như Lai nói, Như Lai nói là không phải Trạng thái Bờ Bên Kia. Vì vậy gọi là Trạng thái Bờ Bên Kia của Tuệ Giác.


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có pháp nào được Như Lai thuyết giảng chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Không có pháp nào được Như Lai thuyết giảng.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Trong 3.000 đại thiên thế giới, số bụi đất có nhiều chăng?


Subhūti thưa:


Nhiều, thưa đức Thế Tôn. Rất nhiều, thưa đức Thiện Thệ. Số bụi đất ấy rất nhiều.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, bụi đất mà Như Lai nói, Như Lai nói là không phải bụi. Vì vậy gọi là bụi đất. Còn thế giới giới mà Như Lai nói, Như Lai nói là không phải giới. Vì vậy gọi là thế giới giới.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có nên do ba mươi hai tướng đại nhân mà thấy Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Không nên do ba mươi hai tướng đại nhân mà thấy Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, ba mươi hai tướng đại nhân ấy mà Như Lai nói, Như Lai nói là phi tướng. Vì vậy gọi là ba mươi hai tướng đại nhân.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, nếu lại có người nữ hoặc người nam, ngày ngày xả bỏ thân mạng nhiều như cát sông Hằng; cứ xả bỏ như vậy trong nhiều kiếp như cát sông Hằng; và nếu có người từ bài pháp này, cho đến chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu, rồi vì người khác mà giảng nói, khai thị rõ ràng, thì chính người này, do nhân duyên ấy, sẽ sinh khởi khối phước nhiều hơn, vô lượng, vô số.


14. Bấy giờ, Trưởng lão Subhūti rơi lệ do sức xúc động khi nghe pháp. Lau nước mắt rồi, Ngài thưa với đức Thế Tôn rằng:


Hy hữu thay, thưa đức Thế Tôn! Vô cùng hy hữu thay, thưa đức Thiện Thệ! bài pháp này được Như Lai thuyết giảng vì lợi ích cho những chúng sinh đã phát tâm hướng đến thừa tối thượng, vì lợi ích cho những chúng sinh đã phát tâm hướng đến thừa thù thắng nhất. Từ khi trí hiểu biết sinh khởi nơi con đến nay, thưa đức Thế Tôn, con chưa từng được nghe bài pháp nào như thế này.


Thưa đức Thế Tôn, những Bồ Tát nào, khi kinh này được thuyết giảng, sau khi nghe rồi sinh khởi tưởng là chân thật, thì những vị ấy sẽ đầy đủ sự hy hữu tối thượng.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, chính tưởng chân thật ấy là tưởng phi chân thật. Vì vậy Như Lai nói: ‘tưởng chân thật, tưởng chân thật.’


Thưa đức Thế Tôn, đối với con, việc con tin hiểu và tín giải bài pháp này khi được thuyết giảng không phải là điều hy hữu. Nhưng thưa đức Thế Tôn, trong đời vị lai, vào thời kỳ cuối, vào thời gian cuối, trong năm trăm năm cuối, khi Chánh Pháp bị suy hoại, nếu có những chúng sinh nào thọ trì, gìn giữ, đọc tụng, học thuộc trọn vẹn bài pháp này, và vì người khác mà khai thị rộng rãi, thì những người ấy sẽ đầy đủ sự hy hữu tối thượng.


Lại nữa, thưa đức Thế Tôn, nơi những người ấy sẽ không khởi lên và vận hành tưởng về cái gọi là "mình", không khởi lên và vận hành tưởng về chúng sinh, không khởi lên và vận hành tưởng về sinh mạng, không khởi lên và vận hành tưởng về bản thân cá nhân. Nơi những người ấy cũng không khởi lên và vận hành bất cứ tưởng nào, cũng không khởi lên và vận hành phi tưởng.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, tưởng về cái gọi là "mình" ấy chính là phi tưởng; tưởng về chúng sinh, tưởng về sinh mạng, tưởng về bản thân cá nhân ấy chính là phi tưởng.


Tại sao vậy?


Vì các đức Phật Toàn Giác, các bậc Thế Tôn đã lìa tất cả tưởng.


Khi lời ấy được nói như vậy, đức Thế Tôn bảo Trưởng lão Subhūti rằng:


Đúng như vậy, này Subhūti. Đúng như vậy. Những chúng sinh ấy sẽ đầy đủ sự hy hữu tối thượng, những ai khi kinh này được thuyết giảng, này Subhūti, không kinh sợ, không sợ hãi, không rơi vào sợ hãi.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, đây là Trạng thái Bờ Bên Kia của Tuệ Giác được Như Lai nói, tức là phi Trạng thái Bờ Bên Kia. Và này Subhūti, Trạng thái Bờ Bên Kia của Tuệ Giác mà Như Lai nói ấy, vô lượng Phật Toàn Giác, các bậc Thế Tôn cũng nói. Vì vậy gọi là Trạng thái Bờ Bên Kia của Tuệ Giác.


Lại nữa, này Subhūti, kṣāntipāramitā - Trạng thái Bờ Bên Kia của Nhẫn Nhục Chịu Đựng của Như Lai chính là phi Trạng thái Bờ Bên Kia.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, khi vua Kali cắt chặt các chi phần và từng phần thân thịt của Ta, vào lúc ấy nơi Ta không có tưởng về cái gọi là "mình", không có tưởng về chúng sinh, không có tưởng về sinh mạng, không có tưởng về bản thân cá nhân; nơi Ta cũng không có bất cứ tưởng nào, cũng không có phi tưởng.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, nếu vào lúc ấy nơi Ta có tưởng về cái gọi là "mình", thì lúc ấy nơi Ta cũng đã có tưởng sân hại. Nếu có tưởng về chúng sinh, tưởng về sinh mạng, tưởng về bản thân cá nhân, thì lúc ấy nơi Ta cũng đã có tưởng sân hại.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, Ta nhớ biết trong quá khứ, năm trăm đời, Ta từng là tiên nhân ẩn sĩ tu hạnh nhẫn nhục chịu đựng Kṣāntivādin. Khi ấy, nơi Ta cũng không có tưởng về cái gọi là "mình", không có tưởng về chúng sinh, không có tưởng về sinh mạng, không có tưởng về bản thân cá nhân.


Vì vậy, này Subhūti, Bồ Tát, Đại Bồ Tát nên lìa bỏ tất cả tưởng mà phát tâm đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Không nên phát tâm an trụ nơi sắc; không nên phát tâm an trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nên phát tâm an trụ nơi pháp; không nên phát tâm an trụ nơi phi pháp; không nên phát tâm an trụ nơi bất cứ chỗ nào.


Tại sao vậy?


Cái gì được an trụ, chính cái ấy là không an trụ. Vì vậy Như Lai nói: Bồ Tát nên không an trụ mà bố thí; không nên an trụ nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí.


Lại nữa, này Subhūti, Bồ Tát nên thực hành sự xả thí như vậy vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

Tại sao vậy?


Này Subhūti, tưởng về chúng sinh ấy chính là phi tưởng. Những chúng sinh mà Như Lai nói là tất cả chúng sinh ấy, chính họ là phi chúng sinh.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, Như Lai là bậc nói chân thật, bậc nói sự thật, bậc nói như thật, bậc không nói khác, bậc không nói hư vọng.


Lại nữa, này Subhūti, pháp mà Như Lai đã chứng ngộ, đã thuyết giảng, đã quán sát, trong đó không có thật, cũng không có hư.


Này Subhūti, ví như người đi vào bóng tối thì không thấy được gì. Nên biết Bồ Tát rơi vào sự vật cũng như vậy, nếu vị ấy rơi vào sự vật mà thực hành xả thí.


Này Subhūti, ví như người có mắt, vào lúc đêm đã sáng, mặt trời mọc lên, thì thấy các loại sắc tướng khác nhau. Nên biết Bồ Tát không rơi vào sự vật cũng như vậy, nếu vị ấy không rơi vào sự vật mà thực hành xả thí.


Lại nữa, này Subhūti, nếu có thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử nào thọ trì, gìn giữ, đọc tụng, học thuộc trọn vẹn bài pháp này, và vì người khác mà khai thị rộng rãi, thì này Subhūti, những người ấy đã được Như Lai biết bằng Trí Biết Toàn Giác của Phật, đã được Như Lai thấy bằng Con Mắt Toàn Giác của Phật, đã được Như Lai giác tri. Này Subhūti, tất cả những chúng sinh ấy sẽ sinh khởi và tiếp nhận khối phước vô lượng, vô số.


15. Lại nữa, này Subhūti, nếu có người nữ hoặc người nam, vào buổi sáng, xả bỏ thân mạng nhiều như cát sông Hằng; cũng như vậy, vào buổi trưa, xả bỏ thân mạng nhiều như cát sông Hằng; vào buổi chiều, xả bỏ thân mạng nhiều như cát sông Hằng; theo cách như vậy, trong nhiều triệu tỷ tỷ tỷ kiếp, xả bỏ thân mạng của mình, nhưng nếu có người nghe bài pháp này mà không bác bỏ, thì chính người ấy, do nhân duyên đó, sẽ sinh khởi khối phước nhiều hơn, vô lượng, vô số. Huống nữa là người biên chép, thọ trì, ghi nhớ, đọc tụng, học thuộc trọn vẹn, và vì người khác mà khai thị rộng rãi.


Lại nữa, này Subhūti, bài pháp này là không thể nghĩ bàn, không gì sánh bằng. Này Subhūti, bài pháp này được Như Lai thuyết giảng vì lợi ích cho những chúng sinh đã phát tâm hướng đến thừa tối thượng, vì lợi ích cho những chúng sinh đã phát tâm hướng đến thừa thù thắng nhất.


Những ai thọ trì, gìn giữ, đọc tụng, học thuộc trọn vẹn bài pháp này, và vì người khác mà khai thị rộng rãi, này Subhūti, những người ấy đã được Như Lai biết bằng Trí Biết Toàn Giác của Phật; đã được Như Lai thấy bằng Con Mắt Toàn Giác của Phật; đã được Như Lai giác tri.

Này Subhūti, tất cả những chúng sinh ấy sẽ đầy đủ khối phước vô lượng; sẽ đầy đủ khối phước không thể nghĩ bàn, không gì sánh bằng, không thể đo lường, không thể hạn lượng. Này Subhūti, tất cả những chúng sinh ấy sẽ cùng một phần mà thọ trì Tỉnh Thức, đọc tụng Tỉnh Thức, học thuộc trọn vẹn Tỉnh Thức.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, bài pháp này không thể được nghe bởi những chúng sinh có thắng giải thấp kém; không thể được nghe bởi những người còn cái thấy về cái gọi là "mình", còn cái thấy về chúng sinh, còn cái thấy về sinh mạng, còn cái thấy về bản thân cá nhân. Những chúng sinh không phát nguyện Bồ Tát thì không thể nghe, thọ trì, gìn giữ, đọc tụng, học thuộc trọn vẹn bài pháp này. Điều ấy không thể có.


Lại nữa, này Subhūti, nơi đất nào Kinh văn này được khai thị, nơi đất ấy sẽ là nơi đáng được cúng dường đối với thế gian gồm chư thiên, loài người và asura. Nơi đất ấy sẽ là nơi đáng được lễ bái, đáng được đi nhiễu quanh; nơi đất ấy sẽ trở thành tháp miếu.


16. Lại nữa, này Subhūti, nếu có thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử nào thọ trì, gìn giữ, đọc tụng, học thuộc trọn vẹn các Kinh điển sūtrānta như thế này, tác ý đúng lý, và vì người khác mà khai thị rộng rãi, thì những người ấy sẽ bị khinh thường, sẽ bị khinh thường rất nhiều.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, những nghiệp bất thiện do các chúng sinh ấy đã tạo trong đời trước, vốn có thể dẫn đến các đường ác, nay do bị khinh thường ngay trong đời hiện tại mà các nghiệp bất thiện đời trước ấy được tiêu diệt; và họ sẽ chứng đạt Tỉnh Thức Toàn Giác của Phật.


Này Subhūti, Ta nhớ biết trong quá khứ, trải qua vô số kiếp, còn hơn cả vô số, trước thời đức Nhiên Đăng Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, đã có tám mươi bốn trăm ngàn triệu tỷ tỷ tỷ vị Phật Toàn Giác, những vị mà Ta đã phụng sự, và sau khi phụng sự, Ta đã không rời bỏ.


Này Subhūti, nếu so sánh việc Ta đã phụng sự các đức Phật Toàn Giác, các bậc Thế Tôn ấy, phụng sự rồi không rời bỏ, với việc trong thời kỳ cuối, trong thời gian cuối, trong năm trăm năm cuối, khi Chánh Pháp bị suy hoại, có người thọ trì, gìn giữ, đọc tụng, học thuộc trọn vẹn các Kinh điển sūtrānta như thế này, và vì người khác mà khai thị rộng rãi, thì khối phước trước kia ấy, so với khối phước này, không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, không bằng một phần trăm ngàn, không bằng một phần chục triệu, không bằng một phần trăm triệu, không bằng một phần tỷ, không bằng một phần trăm ngàn triệu tỷ tỷ tỷ. Không thể bằng được bằng số đếm, bằng một phần, bằng tính toán, bằng thí dụ, bằng so sánh, cho đến bằng bất cứ phép ví dụ nào.


Lại nữa, này Subhūti, nếu Ta nói đầy đủ khối phước của các thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử ấy, khối phước mà các thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử ấy sẽ sinh khởi và tiếp nhận vào lúc ấy, thì các chúng sinh sẽ trở nên cuồng loạn, hoặc tâm bị tán loạn.


Lại nữa, này Subhūti, bài pháp này được Như Lai nói là không thể nghĩ bàn, không gì sánh bằng; quả báo của nó cũng nên được mong đợi là không thể nghĩ bàn.


17. Bấy giờ, Trưởng lão Subhūti thưa với đức Thế Tôn rằng:


Thưa đức Thế Tôn, người đã phát tâm hướng đến Bồ Tát Thừa nên an trụ như thế nào, nên thực hành như thế nào, nên nhiếp phục tâm như thế nào?


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ở đây, người đã phát tâm hướng đến Bồ Tát Thừa nên phát khởi tâm như vầy:


Tất cả chúng sinh đều phải được ta làm cho nhập sự tịch diệt hoàn toàn trong cảnh giới Niết Bàn tịch diệt không còn dư y.


Sau khi làm cho chúng sinh nhập sự tịch diệt hoàn toàn như vậy, thật không có một chúng sinh nào được làm cho nhập sự tịch diệt hoàn toàn.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, nếu nơi Bồ Tát còn khởi lên và vận hành tưởng về chúng sinh, thì không nên gọi vị ấy là Bồ Tát. Nếu còn khởi lên và vận hành tưởng về sinh mạng, cho đến tưởng về bản thân cá nhân, thì không nên gọi vị ấy là Bồ Tát.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, không có một pháp nào gọi là người đã phát tâm hướng đến Bồ Tát Thừa.


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có pháp nào được Như Lai chứng ngộ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nơi đức Nhiên Đăng Như Lai chăng?


Khi lời ấy được nói như vậy, Trưởng lão Subhūti thưa với đức Thế Tôn rằng:


Thưa đức Thế Tôn, theo như con hiểu ý nghĩa lời dạy của đức Thế Tôn, không có một pháp nào được Như Lai chứng ngộ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nơi đức Nhiên Đăng Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.


Khi lời ấy được thưa như vậy, đức Thế Tôn bảo Trưởng lão Subhūti rằng:


Đúng như vậy, này Subhūti. Đúng như vậy. Này Subhūti, không có một pháp nào được Như Lai chứng ngộ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nơi đức Nhiên Đăng Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.


Này Subhūti, nếu có một pháp nào được Như Lai chứng ngộ, thì đức Nhiên Đăng Như Lai đã không thọ ký cho Ta rằng: ‘Này māṇava, trong đời vị lai, ông sẽ thành Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác hiệu là Śākyamuni.’


Này Subhūti, chính vì Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác không có một pháp nào được chứng ngộ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên Ta được đức Nhiên Đăng Như Lai thọ ký rằng: ‘Này māṇava, trong đời vị lai, ông sẽ thành Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác hiệu là Śākyamuni.’


Tại sao vậy?


Này Subhūti, ‘Như Lai’ là tên gọi của Trạng thái Chân Thật Như Vậy (bhūtatathatā). Này Subhūti, ‘Như Lai’ là tên gọi của Trạng thái Pháp Không Sinh (anutpādadharmatā). Này Subhūti, ‘Như Lai’ là tên gọi của sự đoạn tuyệt mọi pháp tán loạn. Này Subhūti, ‘Như Lai’ là tên gọi của cái rốt ráo không sinh.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, chính sự không sinh này là ý nghĩa tối thượng.


Này Subhūti, nếu có ai nói rằng: ‘Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác’, người ấy nói không đúng thật. Này Subhūti, người ấy vu khống Ta bằng sự chấp thủ điều không thật.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, không có một pháp nào được Như Lai chứng ngộ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Này Subhūti, pháp mà Như Lai đã chứng ngộ hoặc đã thuyết giảng, trong đó không có thật, cũng không có hư.


Vì vậy Như Lai nói: ‘Tất cả pháp đều là pháp Toàn Giác.’


Tại sao vậy?


Này Subhūti, ‘tất cả pháp’ ấy, Như Lai nói là phi pháp. Vì vậy gọi là: tất cả pháp đều là pháp Toàn Giác.


Này Subhūti, ví như có người thân thể đầy đủ, thân thể to lớn.


Trưởng lão Subhūti thưa:


Thưa đức Thế Tôn, người mà Như Lai nói là thân thể đầy đủ, thân thể to lớn ấy, Như Lai nói là không phải thân. Vì vậy gọi là thân thể đầy đủ, thân thể to lớn.


Đức Thế Tôn nói:


Đúng như vậy, này Subhūti.


Nếu Bồ Tát nào nói rằng: ‘Ta sẽ làm cho các chúng sinh nhập sự tịch diệt hoàn toàn’, thì không nên gọi vị ấy là Bồ Tát.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, có pháp nào gọi là Bồ Tát chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Không có pháp nào gọi là Bồ Tát.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ‘chúng sinh, chúng sinh’ ấy, Như Lai nói là phi chúng sinh. Vì vậy gọi là chúng sinh.


Vì thế, Như Lai nói: tất cả pháp là không cái gọi là "mình"; tất cả pháp là không sinh mạng, không người tiếp nhận, không bản thân cá nhân.


Này Subhūti, nếu Bồ Tát nào nói rằng: ‘Ta sẽ làm thành tựu sự trang nghiêm cõi Phật’, thì người ấy nói không đúng thật.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, ‘sự trang nghiêm cõi Phật, sự trang nghiêm cõi Phật’ ấy, Như Lai nói là không phải sự trang nghiêm. Vì vậy gọi là sự trang nghiêm cõi Phật.


Này Subhūti, Bồ Tát nào tín giải rằng: ‘Các pháp là không cái gọi là "mình", các pháp là không cái gọi là "mình"’, thì vị ấy được Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác gọi là Bồ Tát, Đại Bồ Tát.


18. Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Như Lai có con mắt thịt chăng?


Subhūti thưa:


Đúng như vậy, thưa đức Thế Tôn. Như Lai có con mắt thịt.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Như Lai có thiên nhãn chăng?


Subhūti thưa:


Đúng như vậy, thưa đức Thế Tôn. Như Lai có thiên nhãn.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Như Lai có con mắt tuệ giác chăng?


Subhūti thưa:


Đúng như vậy, thưa đức Thế Tôn. Như Lai có con mắt tuệ giác.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Như Lai có pháp nhãn chăng?


Subhūti thưa:


Đúng như vậy, thưa đức Thế Tôn. Như Lai có pháp nhãn.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Như Lai có Con Mắt Toàn Giác của Phật chăng?


Subhūti thưa:


Đúng như vậy, thưa đức Thế Tôn. Như Lai có Con Mắt Toàn Giác của Phật.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Bao nhiêu cát trong sông Hằng lớn, những hạt cát ấy có được Như Lai nói đến chăng?


Subhūti thưa:


Đúng như vậy, thưa đức Thế Tôn. Đúng như vậy, thưa đức Thiện Thệ. Những hạt cát ấy đã được Như Lai nói đến.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Bao nhiêu cát trong sông Hằng lớn, nếu lại có bấy nhiêu con sông Hằng; trong các con sông ấy lại có bấy nhiêu cát; và lại có bấy nhiêu thế giới, thì các thế giới ấy có nhiều chăng?


Subhūti thưa:


Đúng như vậy, thưa đức Thế Tôn. Đúng như vậy, thưa đức Thiện Thệ. Các thế giới ấy rất nhiều.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, bao nhiêu chúng sinh trong các thế giới ấy, Ta đều biết rõ mọi dòng tâm sai biệt của họ.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, ‘dòng tâm, dòng tâm’ ấy, Như Lai nói là không phải dòng. Vì vậy gọi là dòng tâm.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, tâm quá khứ không thể nắm bắt; tâm vị lai không thể nắm bắt; tâm hiện tại không thể nắm bắt.


19. Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Nếu có thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử đem 3.000 đại thiên thế giới này chứa đầy bảy báu, rồi dùng để bố thí lên các đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác, thì thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử ấy, do nhân duyên đó, có sinh khởi nhiều khối phước chăng?


Subhūti thưa:


Nhiều, thưa đức Thế Tôn. Rất nhiều, thưa đức Thiện Thệ.


Đức Thế Tôn nói:


Đúng như vậy, này Subhūti. Đúng như vậy. Thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử ấy, do nhân duyên đó, sẽ sinh khởi khối phước rất nhiều, vô lượng, vô số.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, ‘khối phước, khối phước’ ấy, Như Lai nói là không phải khối. Vì vậy gọi là khối phước. Này Subhūti, nếu thật có khối phước, thì Như Lai đã không nói: ‘khối phước, khối phước.’


20. Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có nên do sự viên mãn của sắc thân mà thấy Như Lai chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Không nên do sự viên mãn của sắc thân mà thấy Như Lai.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, ‘sự viên mãn của sắc thân, sự viên mãn của sắc thân’ ấy, Như Lai nói là không phải sự viên mãn. Vì vậy gọi là sự viên mãn của sắc thân.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có nên do sự đầy đủ các tướng mà thấy Như Lai chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Không nên do sự đầy đủ các tướng mà thấy Như Lai.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, sự đầy đủ các tướng ấy mà Như Lai đã nói, Như Lai nói là sự không đầy đủ các tướng. Vì vậy gọi là sự đầy đủ các tướng.


21. Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Như Lai có nghĩ rằng: ‘Ta đã thuyết pháp’ chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Như Lai không nghĩ rằng: ‘Ta đã thuyết pháp.’


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, nếu có ai nói rằng: ‘Như Lai đã thuyết pháp’, người ấy nói không đúng thật. Này Subhūti, người ấy vu khống Ta bằng sự chấp thủ điều không thật.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, ‘thuyết pháp, thuyết pháp’ ấy, thật không có một pháp nào có thể được nắm bắt gọi là thuyết pháp.


Khi lời ấy được nói như vậy, Trưởng lão Subhūti thưa với đức Thế Tôn rằng:


Thưa đức Thế Tôn, trong đời vị lai, vào thời kỳ cuối, vào thời gian cuối, trong năm trăm năm cuối, khi Chánh Pháp bị suy hoại, liệu có những chúng sinh nào sau khi nghe các pháp như thế này sẽ sinh tín giải chăng?


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, họ không phải là chúng sinh, cũng không phải phi chúng sinh.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, ‘chúng sinh, chúng sinh’ ấy, tất cả họ được Như Lai nói là phi chúng sinh. Vì vậy gọi là chúng sinh.


22. Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có pháp nào được Như Lai chứng ngộ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng?


Trưởng lão Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Không có một pháp nào được Như Lai chứng ngộ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.


Đức Thế Tôn nói:


Đúng như vậy, này Subhūti. Đúng như vậy. Ở trong đó, dù một pháp nhỏ như hạt bụi cũng không hiện hữu, không thể nắm bắt. Vì vậy gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.


23. Lại nữa, này Subhūti, pháp ấy bình đẳng; trong đó không có gì sai biệt. Vì vậy gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.


Do không có cái gọi là "mình", không có chúng sinh, không có sinh mạng, không có bản thân cá nhân, nên Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ấy là bình đẳng, và được chứng ngộ bởi tất cả các pháp thiện.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, ‘pháp thiện, pháp thiện’ ấy, Như Lai nói chính là phi pháp. Vì vậy gọi là pháp thiện.


24. Lại nữa, này Subhūti, nếu có người nữ hoặc người nam gom nhóm bảy báu thành từng đống lớn như núi Sumeru, vua của các núi, trong 3.000 đại thiên thế giới, rồi dùng để bố thí lên các đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác; và nếu có thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử từ bài pháp Trạng thái Bờ Bên Kia của Tuệ Giác này, cho đến chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu, rồi vì người khác mà giảng nói, thì này Subhūti, khối phước trước kia không bằng một phần trăm của khối phước này, cho đến không gì sánh bằng dù chỉ bằng một phép so sánh nhỏ nhất.


25. Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Như Lai có nghĩ rằng: ‘Ta đã giải thoát các chúng sinh’ chăng? Này Subhūti, không nên thấy như vậy.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, không có một chúng sinh nào được Như Lai giải thoát. Nếu, này Subhūti, thật có một chúng sinh nào được Như Lai giải thoát, thì chính đó là sự nắm bắt cái gọi là "mình" của Như Lai, là sự nắm bắt chúng sinh, sự nắm bắt sinh mạng, sự nắm bắt bản thân cá nhân.


Này Subhūti, ‘sự nắm bắt cái gọi là "mình"’ ấy, Như Lai nói là không phải sự nắm bắt. Nhưng người phàm phu ngu si lại nắm bắt điều ấy. Này Subhūti, ‘phàm phu ngu si’ ấy, Như Lai nói chính là không phải người. Vì vậy gọi là người phàm phu ngu si.


26. Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Có nên do sự đầy đủ các tướng mà thấy Như Lai chăng?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Theo như con hiểu ý nghĩa lời dạy của đức Thế Tôn, không nên do sự đầy đủ các tướng mà thấy Như Lai.


Đức Thế Tôn nói:


Lành thay, lành thay, này Subhūti. Đúng như vậy, này Subhūti; đúng như lời ông nói. Không nên do sự đầy đủ các tướng mà thấy Như Lai.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, nếu có thể do sự đầy đủ các tướng mà thấy Như Lai, thì Vua Chuyển Luân Thánh Vương cũng đã là Như Lai. Vì vậy, không nên do sự đầy đủ các tướng mà thấy Như Lai.


Trưởng lão Subhūti thưa với đức Thế Tôn rằng:


Theo như con hiểu ý nghĩa lời dạy của đức Thế Tôn, không nên do sự đầy đủ các tướng mà thấy Như Lai.


Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói các bài kệ như sau:


1. Những ai thấy Ta bằng hình sắc,

Những ai theo Ta bằng âm thanh,

Đều đi vào con đường tà đạo,

Những người ấy không thấy được Ta.


2. Nên thấy Phật Toàn Giác từ pháp;

Pháp Thân chính là Bậc Đạo Sư.

Nhưng Pháp Tánh không thể nhận biết,

Không thể được biết như đối tượng.


27. Này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Do sự đầy đủ các tướng mà Như Lai chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng? Này Subhūti, ông không nên thấy như vậy.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, Như Lai không do sự đầy đủ các tướng mà chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.


Lại nữa, này Subhūti, ông không nên để ai nói rằng: ‘Những người đã phát tâm hướng đến Bồ Tát Thừa chủ trương sự hủy diệt hay đoạn diệt của một pháp nào.’ Này Subhūti, ông không nên thấy như vậy.


Tại sao vậy?


Những người đã phát tâm hướng đến Bồ Tát Thừa không chủ trương sự hủy diệt hay đoạn diệt của bất cứ pháp nào.


28. Lại nữa, này Subhūti, nếu có thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử đem các thế giới nhiều như cát sông Hằng chứa đầy bảy báu, rồi dùng để bố thí lên các đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác; và nếu có Bồ Tát đạt được nhẫn nhục chuỵ đựng đối với các pháp vô ngã, không sinh khởi, thì chính vị ấy, do nhân duyên đó, sẽ sinh khởi khối phước nhiều hơn, vô lượng, vô số.


Lại nữa, này Subhūti, Bồ Tát, Đại Bồ Tát không nên nắm giữ khối phước.


Trưởng lão Subhūti thưa:


Thưa đức Thế Tôn, chẳng phải Bồ Tát nên nắm giữ khối phước sao?


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, nên nhiếp trì, nhưng không nên chấp thủ. Vì vậy gọi là nên nhiếp trì.


29. Lại nữa, này Subhūti, nếu có ai nói rằng: ‘Như Lai đi, hoặc đến, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm nghỉ’, này Subhūti, người ấy không hiểu ý nghĩa lời Ta đã nói.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, gọi là Như Lai, tức là không đi đến bất cứ nơi nào, cũng không từ bất cứ nơi nào đến. Vì vậy gọi là Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác.


30. Lại nữa, này Subhūti, nếu có thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử lấy hết thảy bụi đất trong 3.000 đại thiên thế giới, nghiền các thế giới ấy thành các hạt lượng tử, bằng sự tinh cần vô số như vậy, thì này Subhūti, ông nghĩ thế nào? Khối các hạt lượng tử ấy có nhiều chăng?


Subhūti thưa:


Đúng như vậy, thưa đức Thế Tôn. Đúng như vậy, thưa đức Thiện Thệ. Khối các hạt lượng tử ấy rất nhiều.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, nếu thật có nhiều khối các hạt lượng tử, thì đức Thế Tôn đã không nói là ‘khối các hạt lượng tử’.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, khối các hạt lượng tử mà Như Lai nói, Như Lai nói là không phải khối. Vì vậy gọi là khối các hạt lượng tử. Và 3.000 đại thiên thế giới mà Như Lai nói, Như Lai nói là không phải giới. Vì vậy gọi là 3.000 đại thiên thế giới.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, nếu thật có thế giới, thì chính đó là sự nắm bắt một khối. Nhưng sự nắm bắt một khối mà Như Lai nói, Như Lai nói là không phải sự nắm bắt. Vì vậy gọi là sự nắm bắt một khối.


Đức Thế Tôn nói:


Này Subhūti, sự nắm bắt một khối ấy không thể được diễn nói, không thể được biểu đạt. Nó không phải pháp, cũng không phải phi pháp. Nhưng phàm phu ngu si lại nắm bắt điều ấy.


31. Tại sao vậy?


Này Subhūti, nếu có ai nói rằng: ‘cái thấy về cái gọi là "mình" đã được Như Lai nói; cái thấy về chúng sinh, cái thấy về sinh mạng, cái thấy về bản thân cá nhân đã được Như Lai nói’, này Subhūti, người ấy có nói đúng không?


Subhūti thưa:


Không, thưa đức Thế Tôn. Không, thưa đức Thiện Thệ. Người ấy không nói đúng.


Tại sao vậy?


Thưa đức Thế Tôn, cái thấy về cái gọi là "mình" mà Như Lai nói, Như Lai nói là không phải cái thấy. Vì vậy gọi là cái thấy về cái gọi là "mình".


Đức Thế Tôn nói:


Như vậy, này Subhūti, người đã phát tâm hướng đến Bồ Tát Thừa nên biết, nên thấy, nên tín giải tất cả pháp. Nhưng nên biết, nên thấy, nên tín giải như vậy: không nên an lập nơi tưởng về pháp, cũng không nên an lập nơi tưởng về phi pháp.


Tại sao vậy?


Này Subhūti, ‘tưởng về pháp, tưởng về pháp’ ấy, Như Lai nói là phi tưởng. Vì vậy gọi là tưởng về pháp.


32. Lại nữa, này Subhūti, nếu có Bồ Tát, Đại Bồ Tát đem vô lượng, vô số thế giới chứa đầy bảy báu, rồi dùng để cúng dường lên các đức Như Lai, Bậc A La Hán, Chánh Đẳng Giác; và nếu có thiện gia nam tử hoặc thiện gia nữ tử từ bài pháp Trạng thái Bờ Bên Kia của Tuệ Giác này, cho đến chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu, gìn giữ, giảng nói, đọc tụng, học thuộc trọn vẹn, và vì người khác mà khai thị rộng rãi, thì chính người này, do nhân duyên đó, sẽ sinh khởi khối phước nhiều hơn, vô lượng, vô số.


Và nên khai thị như thế nào?


3. Như ở giữa không gian hư không:

Như sao, như bóng tối, như đèn,

Như huyễn, như sương móc, bọt nước,

Như mộng, như điện chớp, như mây;

Hãy nhận biết quán sát các pháp,

Do tạo tác làm thành như vậy.


Nên khai thị như vậy. Vì thế gọi là khai thị.


Đức Thế Tôn đã nói như vậy, với tâm hoan hỷ. Trưởng lão Subhūti, các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Cư Sĩ Nam, Cư Sĩ Nữ, các Bồ Tát, cùng thế gian gồm chư thiên, loài người, asura và gandharva, sau khi nghe lời đức Thế Tôn nói, đều hoan hỷ tín thọ.


Kinh thứ 300. Kinh Trạng Thái Bờ Bên Kia Của Thánh Tuệ Giác Của Đức Thế Tôn đến đây hoàn tất.


QUANG DANG TRAN 21 tháng 6, 2026
Chia sẻ bài này
Blog của chúng tôi
Lưu trữ
WHITE LOTUS PUṆḌARĪKA GREAT COMPASSION PURITY SUTRA